Saturday, July 11, 2015

Kim Quang Minh-PHẨM KIÊN LAO ĐỊA THẦN



Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh
KIÊN LAO ĐỊA THẦN
_PHẨM THỨ MƯỜI TÁM_

Bấy giờ, Kiên Lao Địa Thần (Dṛḍha-pṛthivi) tức ở trong Chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính, rồi bạch Phật rằng: “Thế Tốn Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này, hoặc đời hiện tại, hoặc đời vị lai, nếu thành ấp, thôn xóm, cung vua, lầu, quán với A Lan Nhã (Araṇya), núi, nhà, rừng vắng… nơi có Kinh Vương này lưu bày.
Thế Tôn! Con sẽ đi đến nơi ấy cúng dường, cung kính, ủng hộ lưu thông. Nếu có phương xứ vì vị Thầy thuyết Pháp dựng lập cái tòa cao diễn nói Kinh thì con dùng Thần Lực, chẳng hiện bản thân, ở ngay cái tòa dùng đỉnh đầu đội bàn chân của vị ấy. Con được nghe Pháp nên thâm tâm vui vẻ, được ăn Pháp Vị, tăng ích uy quang, vui thích vô lượng. Tự thân đã được lợi ích như vậy, cũng khiến cho Đại Địa sâu sáu mươi vạn tám ngàn Du Thiện Na đến bờ mé Kim Cương, khiến cho mùi vị của đất ấy thảy đều tăng ích, cho đến bốn biển, hết thảy đất đai cũng khiến cho ruộng nương tươi tốt, đất xốp mềm màu mỡ tăng hơn ngày thường gấp bội. Cũng lại khiến cho Thiệm Bộ Châu này: sông nhỏ, sông lớn, ao, đầm, hết thảy các cây, cỏ thuốc, rừng rậm, mọi loại hoa quả, cọng rễ, cành lá với các mầm lúa… có hình dáng đáng yêu, mọi người thích nhìn, đầy đủ màu sắc mùi thơm đều thọ dụng được.
Nếu các hữu tình thọ dụng thức ăn uống thù thắng như vậy xong thì sống lâu; sắc đẹp, sức lực, các căn an ổn, tăng ích tươi sáng, không có các đau đớn bực bội. Tâm Tuệ cứng mạnh không có gì chẳng kham nhận được. Lại Đại Địa này, phàm có chỗ cần thì trăm ngàn sự nghiệp thảy đều tốt hết.
Bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên này, các Thiệm Bộ Châu an ổn giàu có vui sướng, người dân đông đầy, không có các suy não, hết thảy chúng sinh đều được an vui. Đã thọ nhận như vậy thì thân tâm khoái lạc. Đối với Kinh Vương này, tăng thêm yêu kính sâu xa, ở tại chỗ nào đều nguyện thọ trì, cúng dường,
cung kính, tôn trọng, khen ngợi. Lại nữa, ở nơi có Pháp Tòa của vị Đại Sư thuyết Pháp kia thảy đều đến chỗ ấy, vì các chúng sinh khuyến thỉnh nói Tối Thắng Kinh Vương này. Tại sao thế? Thế Tôn! Do nói Kinh này mà tự thân của con với các quyến thuộc đều nương nhờ lợi ích, khí lực tươi sáng, uy thế dũng mãnh, dung mạo đoan chính hơn lúc thường gấp bội  
Thế Tôn! Con, Kiên Lao Địa Thần nương vào Pháp Vị xong thì khiến cho Thiệm Bộ Châu: đất dài rộng bảy ngàn du thiện na thảy đều xốp mềm màu mỡ, cho đến như lúc trước, hết thảy chúng sinh đều được an vui. 
Chính vì thế cho nên, bạch Đức Thế Tôn! Thời chúng sinh ấy vì báo đáp ân của con, nên tác niệm này: “Tôi sẽ quyết định nghe nhận Kinh này, cung kính, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi”. Tác niệm này xong, liền từ chỗ cư trú, thành ấp, thôn xóm, nhà cửa, đất trống đi đến chỗ của Pháp Hội, đỉnh lễ vị Pháp Sư, nghe nhận Kinh này. Đã nghe nhận xong, đều quay vễ chỗ của mình, Tâm sinh mừng vui, cùng nhau nói lời này: “Ngày nay, chúng tôi được nghe Pháp màu nhiệm vô thượng thâm sâu, tức là nhiếp nhận nhóm Công Đức chẳng thể nghĩ bàn. Do sức của Kinh cho nên chúng tôi sẽ gặp được vô lượng vô biên trăm ngàn câu chi na dữu đa Phật, thừa sự cúng dường, lìa hẳn nơi cực khổ trong ba đường. Lại ở trong trăm ngàn đời sau thường sinh lên Trời với tại nhân gian thọ nhận các niềm vui thù thắng”. Thời các người ấy đều quay về chỗ ở của mình, vì mọi người nói Kinh Vương này, hoặc một ví dụ, một phẩm, một nhân duyên xưa, tên của một Đức Như Lai, tên của một vị Bồ Tát, một bài Tụng bốn câu, hoặc lại một câu. Vì các chúng sinh nói Kinh Điển này, cho đến tên gọi của đầu đề
Thế Tôn! Tùy theo nơi các chúng sinh cư trú, đất ấy thảy đều xốp mềm màu mỡ tươi tốt hơn hẳn nơi khác. Phàm vật được sinh ra trên đất đai ấy đều được tăng trưởng tối tươi rộng lớn, khiến cho các chúng sinh thọ nhận sự khoái lạc, nhiều tiền của, thích hành Huệ Thí, Tâm thường bền chắc tin sâu nơi Tam Bảo”

Nói lời này xong. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Kiên Lao Địa Thần rằng: “Nếu có chúng sinh nghe Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này, cho đến một câu thì sau khi chết sẽ được sinh về cõi Tam Thập Tam Thiên với cõi Trời khác
Nếu có chúng sinh vì muốn cúng dường Kinh Vương này thì nên trang nghiêm nhà cửa, cho đến trương một cái dù lọng, treo một phan lụa. Do nhân duyên này, như niệm thọ sinh trên sáu cõi Trời, tùy ý nhận dùng cung màu nhiệm bảy báu, mỗi mỗi đều tự nhiên có bảy ngàn Thiên Nữ cùng nhau vui sướng, ngày đêm thường thọ nhận niềm vui thù thắng chẳng thể nghĩ bàn”
Nói lời này xong. Khi ấy, Kiên Lao Địa Thần bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Do nhân duyên này, nếu có bốn Chúng đi lên Pháp Tòa, nói Pháp này thời con sẽ ngày đêm ủng hộ người này, tự ân thân mình, ở tại tòa dùng đỉnh đầu đội bàn chân của vị ấy.
Thế Tôn! Kinh Điển như vậy, vì chúng sinh kia đã ở chỗ của trăm ngàn Đức Phật gieo trồng căn lành, ở Thiệm Bộ Châu lưu bày chẳng diệt. Các chúng sinh đó nghe Kinh này thì ở đời vị lai: vô lượng trăm ngàn câu chi na dữu đa kiếp, trên cõi Trời, trong cõi người thường thọ nhận niềm vui thù thắng, được
gặp chư Phật, mau thành A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác), chẳng trải qua nỗi khổ sinh tử trong ba đường”
  
Lúc đó, Kiên Lao Địa Thần bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con có Tâm Chú hay lợi cho người, Trời, an vui tất cả. Nếu có người nam, người nữ với các bốn Chúng muốn được đích thân thấy Chân Thân của con thì cần phải chí Tâm trì Đà La Ni này, tùy theo ước nguyện của người ấy thảy đều toại tâm, ấy là: tiền của, châu báu, phục tàng (kho tàng bị che lấp), cầu Thần Thông, thuốc màu nhiệm sống lâu và chữa trị mọi bệnh, giáng phục oán địch, chế ngự các Luận khác… Nên ở Tịnh Thất, an trí Đạo Trường, tắm gội thân xong, mặc áo sạch mới, ngồi xổm trên tòa cỏ, ở trước Tôn Tượng có Xá Lợi, hoặc Chế Để (Caitye: tháp miếu) có Xá Lợi, đốt hương rải hoa, thức ăn uống cúng dường. Vào ngày 8 của kỳ Bạch Nguyệt hợp với sao Bố Sát (Puṣya: Quỷ Tú), tức có thể tụng Chú Thỉnh Triệu này
Đát điệt tha: chỉ lý chỉ lý, chủ lỗ chủ lỗ, cú lỗ cú lỗ, câu trụ câu trụ, đổ trụ đổ trụ, phộc ha phộc ha, phạt xả phạt xả, toa ha
*)TADYATHĀ: CIRI  CIRI, CURU  CURU, KURU  KURU, KUṬU  KUṬU, TOṬU  TOṬU, VAHA  VAHA, VAŚA  VAŚA  SVĀHĀ
Thế Tôn! Thần Chú này, nếu có bốn Chúng tụng 108 biến thỉnh triệu con thì con vì người này, liền đến nhận sự thỉnh cầu (phó thỉnh).
Lại nữa, Thế Tôn! Nếu có chúng sinh muốn được thấy con hiện thân cùng nói chuyện thì cũng nên như lúc trước, an trí Pháp Thức, tụng Thần Chú này:
Đát điệt tha: át chiết nê, hiệt lực sát nê, thất ni, đạt lý, ha ha, hứ hứ, khu lỗ, phạt lệ, toa ha
*)TADYATHĀ: AÑCANE  KṚŚANE-SANE-DHARI_ HA HA_ HI HI_ KURU  VĀRE  SVĀHĀ  
Thế Tôn! Nếu người trì Chú này thời nên tụng 108 biến kèm với tụng Chú lúc trước thì con liền hiện thân, tùy theo ước nguyện của người ấy đều được thành tựu, cuối cùng chẳng hư hão
Nếu muốn tụng Chú này thời trước tiên tụng Hộ Thân Chú là:
“Đát điệt tha: nễ thất lý, thất lý, mạt xả yết trí, nại trí, củ trí, bột địa bột địa lệ, tỳ trí tỳ trí, củ cú trí, khư bà, chỉ lý, toa ha”
*)TADYATHĀ: ŚIRI  ŚIRI_ MĀSA  KAṬI  NAṬI  KUṬI_ BUDDHI  BUDDHILĪ_ VIṬI  VIṬI_ KUKUṬI  KAVACIRI  SVĀHĀ  
Thế Tôn! Khi tụng Chú này thời lấy sợi dây ngũ sắc, tụng Chú 21 biến, thắt 21 gút, cột buộc ngay sau khuỷu tay trái, tức liền hộ thân không có chỗ sợ hãi. Nếu có người chí Tâm tụng Chú này thì chỗ mong cầu đều được toại nguyện. Con chẳng nói dối, con dùng báu Phật Pháp Tăng để làm Khế Ước chứng biết là thật”    

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Địa Thần rằng: “Lành thay! Lành thay! Ông hay dùng Thật Ngữ Thần Chú này hộ trì Kinh Vương này với người nói Pháp. Do nhân duyên này khiến cho ông được vô lượng Phước Báo”
 

ĐẠI CÁT TƯỜNG THIÊN NỮ TĂNG TRƯỞNG TÀI VẬT



Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh
ĐẠI CÁT TƯỜNG THIÊN NỮ TĂNG TRƯỞNG TÀI VẬT
_PHẨM THỨ MƯỜI BẢY_
 
Bấy giờ, Đại Cát Tường Thiên Nữ lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Bệ Thất La Mạt Noa Thiên Vương (Vaiśravaṇa-devarāja: Đa Văn Thiên Vương) ở phương Bắc có cái thành tên là Hữu Tài (Sāmiṣā), các cái thành chẳng xa có cái vườn tên là Diệu Hoa Phước Quang, bên trong có cái điện thù thắng do bảy báu tạo thành.
Thế Tôn! Con thường trụ ở nơi ấy. Nếu lại có người muốn cầu năm loại lúa đậu ngày ngày tăng nhiều, kho chứa tràn đầy thì cần phải phát khởi Tâm tôn kính, tin tưởng (kính tín) dọn một cái thất sạch sẽ, dùng Cồ Ma (Gomayī: phân bò) xoa tô mặt đất, nên vẽ tượng của con với mọi loại Anh Lạc trang nghiêm  vòng khắp. Nên tắm gội, thân mặc quần áo sạch, dùng hương thơm tốt xoa bôi, vào bên trong Tịnh Thất, phát Tâm vì con, mỗi ngày ba thời xưng tên của Đức Phật ấy với danh hiệu của Kinh này mà lễ kính.
Nam mô Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai (Namo Rakta-kusuma-guṇa-sāgara-vaiḍūrya-kanaka-giri-suvarṇa-kāñcana-prabhāsa-śrī  Tathāgatāya) 
Cầm các hương hoa cùng với mọi loại thức ăn uống ngon ngọt, chí Tâm phụng hiến. Cũng đem hương hoa với các thức ăn uống cúng dường tượng của con. Lại cầm thức ăn uống rải ném phương khác, cúng thí các hàng Thần, nói lời thành thật mời thỉnh Đại Cát Tường Thiên, phát nguyện mong cầu. “Nếu như lời đã nói là chẳng hư giả  thì điều mà con đã mời thỉnh đừng khiến cho uổng phí vậy”. Lúc đó, Cát Tường Thiên Nữ biết việc này xong, liền sinh thương tưởng, khiến cho tiền của, lúa đậu trong nhà người ấy được tăng trưởng. Tức nên tụng Chú thỉnh triệu con. Trước tiên xưng tên của Phật với tên gọi của Bồ Tát, một lòng kính lễ.
_Nam mô tất cả chư Phật ba đời ở mười phương
Nam mô Bảo Kế Phật (Ratna-śikhina)
Nam mô Vô Cấu Quang Minh Bảo Tràng Phật (Amala-raśmi-ratna-ketu)    
Nam mô Kim Tràng Quang Phật (Suvarṇa-ketu-prabhāsa)   
Nam mô Bách Kim Quang Tạng Phật (Śata-suvarṇa-prabhāsa-garbha)  
Nam mô Kim Cái Bảo Tích Phật (Suvarṇa-ratnākara-cchatraskūṭa)
Nam mô Kim Hoa Quang Tràng Phật (Suvarṇa-puṣpa-jvala-raśmi-ketu)  
Nam mô Đại Đăng Quang Phật (Mahā-pradīpa)   
Nam mô Đại Bảo Tràng Phật (Mahā-ratna-ketu)  
Nam mô Bất Động Phật (Akṣobhya) ở phương Đông
Nam mô Bảo Tràng Phật (Ratna-ketu) ở phương Nam 
Nam mô Vô Lượng Thọ Phật (Amitāyus) ở phương Tây
Nam mô Thiên Cổ Âm Vương Phật (Devya-duṇḍubhi-svara) ở phương Bắc
Nam mô Diệu Tràng Bồ Tát (Rucira-ketu)  
Nam mô Kim Quang Bồ Tát (Suvarṇa-prabhāsa)   
Nam mô Kim Tạng Bồ Tát (Suvarṇa-garbha)  
Nam mô Thường Đề Bồ Tát (Sadāprarudita)   
Nam mô Pháp Thượng Bồ Tát (Dharmodgata)   
Nam mô Thiện An Bồ Tát 
Kính lễ Phật, Bồ Tát như vậy xong. Tiến theo nên tụng Chú thỉnh triệu con, Đại Cát Tường Thiên Nữ. Do sức của Chú này thì việc đã mong cầu đều được thành tựu”
Liền nói Chú là:
“Nam mô thất lợi mạc ha thiên nữ. Đát điệt tha: bát lợi bô liệt noa, chiết lệ, tam mạn đa đạt lạt thiết nê, mạc ha tỳ ha la yết đế, tam mạn đá, tỳ đàm mạt nê, mạc ha ca lý dã, bát lạt để sắt sá bát nê, tát bà át tha, sa đạn nê, tô bát lạt để, bô lệ, a gia na, đạt ma đa, mạc ha tỳ câu bỉ đế, mạc ha mê đốt lỗ, ổ ba tăng hứ đê, mạc ha hiệt lợi sử, tô tăng cận lý hứ đê, tam mạn đa át tha, a nô ba lạt nê, toa ha”
*) NAMO  ŚRĪ  MAHĀ-DEVĪYA
TADYATHĀ: PARI-PŪRṆA-CARE,  SAMANTA  DARŚANE,  MAHĀ- VIHĀRA  GATE,  SAMANTA  VIDHĀ-MANE,  MAHĀ-KĀRYA-PRATI-ṢṬHĀPANE_ SARVĀRTHA-SĀDHANE, SUPRATI-PŪRE, ĀYĀNA  DHARMATĀ , MAHĀ-AVIKOPITE, MAHĀ-MAITRĪ, UPA-SAṂHITE, MAHĀ-KLEŚE SU-SAṂGṚHĪTE, SAMANTĀRTHA  ANUPĀLANE  SVĀHĀ
Thế Tôn! Nếu người tụng trì Thần Chú như vậy thỉnh triệu con thời con nghe thỉnh xong, liền đến nơi ấy khiến cho được toại nguyện.
Thế Tôn! Câu của Pháp quán đỉnh này là câu quyết định thành tựu, là câu chân thật, là câu không có hư dối, là Hạnh bình đẳng, đối với các chúng sinh là căn lành chân chính. Nếu có người thọ trì, đọc tụng thì nên bảy ngày bảy đêm thọ nhận tám Chi Giới. Vào lúc sáng sớm, trước tiên nhai nhấm Xỉ Mộc, tắm gội xúc miệng sạch sẽ xong, với sau lúc quá trưa, đem hương hoa cúng dường tất cả chư Phật. Tự tỏ bày tội của mình, nên vì thân mình với các Hàm Thức (satva: hữu tình) hồi hướng, phát nguyện khiến cho điều đã mong cầu mau được thành tựu. 
Dọn một cái thất sạch sẽ, hoặc tại nơi Không Nhàn A Lãn Nhã (Araṇya), dùng cồ Ma (phân bò) làm Đàn, đốt Chiên Đàn Hương để làm cúng dường, bày một cái tòa thù thắng, phan lọng trang nghiêm. Đem các hoa thơm đẹp xếp bày bên trong Đàn, cần phải chí Tâm tụng trì Chú lúc trước, hy vọng con (Đại Cát Tường Thiên Nữ) đến. Ở lúc đó, con liền hộ niệm, quán sát người này, đi đến vào cái thất ấy, chọn cái tòa để ngồi, nhận cúng dường ấy. Từ đây vầ sau sẽ khiến cho người ấy ở trong giấc mộng được thấy con, tùy theo việc đã mong cầu, dùng sự thật báo cho biết        
Hoặc ở thôn xóm, nhà trống với trú xứ của Tăng thì tùy theo điều đã mong cầu đều khiến cho viên mãn. Vàng, bạc, tài bảo, bò, dê, lúa đậu, lúa mạch, thức ăn uống, quần áo đều được tùy theo Tâm thọ nhận các khoái lạc. Đã được quả thắng diệu như vậy thì nên đem phần bên trên cúng dướng Tam Bảo với cúng thí cho con, rộng làm Pháp Hội, bày các thức ăn uống, xếp bày hương hoa. Đã cúng dường xong thì đem bán hết thảy thứ cúng dường lấy tiền, lại làm cúng dường. Con sẽ suốt đời thường trụ ở đây, ủng hộ người này khiến không có thiếu thốn, tùy theo điều đã mong cầu thảy đều vừa ý. Cũng nên thời thời cấp giúp cho người nghèo túng, chẳng nên tham tiếc, giữ riêng cho thân mình. 
Thường đọc Kinh này, cúng dường chẳng dứt. Nên đem Phước này bố thí cho tất cả, hồi hướng Bồ Đề, nguyện ra khỏi sinh tử, mau được giải thoát”
   
Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen rằng: “Lành thay Cát Tường Thiên Nữ! Ngươi hay như vậy lưu bày Kinh này, thật chẳng thể luận bàn, ta người đều được lợi ích”

Kim Quang Minh-TỨ THIÊN VƯƠNG



Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh
TỨ THIÊN VƯƠNG QUÁN SÁT NGƯỜI TRỜI
_PHẨM THỨ MƯỜI MỘT_
 
Bấy giờ, Đa Văn  (Vaiśravaṇa) Thiên Vương, Trì Quốc (Dṛḍha-rāṣṭra)Thiên Vương, Tăng Trưởng (Virūḍhaka)Thiên Vương, Quảng Mục (Virūpākṣa)Thiên Vương đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở vai phải, quỳ gối phải sát đất, chắp tay hướng về Đức Phật, lễ bàn chân của Đức Phật xong, rồi bạch Phật rằng:
 “Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này, tất cả chư Phật thường nhớ quán sát, là nơi mà tất cả Bồ Tát cung kính, nơi mà tất cả Trời Rồng thường cúng dường với các Thiên Chúng thường sinh vui vẻ, tất cả Hộ Thế (Loka-pāla) xưng dương khen ngợi. Thanh Văn, Độc Giác đều cùng thọ trì. Hay ban cho tất cả chúng sinh an vui thù thắng. Chận đứng khổ não trong các nẻo Địa Ngục, Quỷ đói, Bàng Sinh. Đều hay trừ hết tất cả sự sợ hãi. Hết thảy oán địch lại liền lui tan. Thời ác đói kém mất mùa hay khiến cho no đủ. Đều khiến trừ sạch tật dịch, bệnh khổ. Thảy đều tiêu diệt tất cả tai biến, trăm ngàn khổ não 
Thế Tôn!  Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này hay làm cho an ổn lợi lạc như vậy, nhiêu ích cho chúng con. Nguyện xin Đức Thế Tôn ở trong Đại Chúng rộng tuyên nói. Bốn Thiên Vương chúng con với các quyến thuộc nghe Pháp Vị Cam Lộ vô thượng này thì khí lực thêm mạnh mẽ, tăng ích cho uy quang, tinh tấn dũng mãnh, Thần Thông vượt hơn gấp bội.
Thế Tôn! Bốn Thiên Vương chúng con tu hành Chính Pháp, thường nói Chính Pháp, dùng Pháp cảm hóa đời. Chúng con khiến cho hàng Trời (Deva), Rồng (Nāga), Dược Xoa (Yakṣa), Kiện Thát Bà (Gandharva), A Tô La (Asura), Yết Lộ Trà (Garuḍa), Cưu Bàn Trà (Kumbhaṇḍa), Khẩn Na La (Kiṃnara), Mạc Hô La Già (Mahoraga) với các Nhân Vương (Nārendra) thường dùng Chính Pháp cảm hóa thế gian, ngăn đuổi các ác. Hết thảy Quỷ Thần hút tinh khí con người, loài không có Từ Bi thảy đều đi xa. 
Thế Tôn! Bốn Thiên Vương chúng con cùng với 28 Bộ Dược Xoa Đại Tướng kèm với vô lượng trăm ngàn Dược Xoa dùng Thiên Nhãn (Devya-cakṣu) thanh tịnh hơn hẳn người đời, quán sát ủng hộ Thiệm Bộ Châu (Jambu-dvīpa) này.
Thế Tôn! Do nhân duyên này mà chúng con, các vua có tên là bậc Hộ Thế (Loka-pāla). Lại ở trong Châu này, nếu có quốc vương bị oán tặc nơi khác thường đến xâm nhiễu với nhiều nạn đói kém mất mùa, bệnh dịch lưu hành, vô lượng trăm ngàn việc tai ách.
Thế Tôn! Bốn Thiên Vương chúng con đối với Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này cung kính cúng dường. Nếu có Bật Sô Pháp Sư (vị Pháp Sư là Tỳ Kheo) thọ trì đọc tụng thì bốn Thiên Vương chúng con cùng nhau đến thức tỉnh, khuyến thỉnh người ấy, thời vị Pháp Sư ấy do sức Thần Thông thức tỉnh của con, đi đến cõi nước kia rộng tuyên lưu bày Kinh Điển Kim Quang Minh vi diệu này. Do sức của Kinh khiến cho vô lượng trăm ngàn việc suy não, tai ách kia thảy đều trừ hết.
Thế Tôn! Nếu các Nhân Vương ở trong nước ấy, có vị Bật Sô Pháp Sư trì Kinh này đi đến nước ấy thời nên biết Kinh này cũng đến nước ấy 
Thế Tôn! Lúc đó, quốc vương kia nên đến chỗ của vị Pháp Sư lắng nghe vị ấy nói.  Nghe xong vui vẻ, cung kính cúng dường vị Pháp Sư ấy, thâm tâm ủng hộ khiến cho không có lo lắng bực bội, diễn nói Kinh này lợi ích cho tất cả
Thế Tôn! Do Kinh này cho nên bốn Thiên Vương chúng con đều cùng nhau một lòng hộ giúp vị Nhân Vương với người dân trong nước, khiến lìa tai họa thường được an ổn.
Thế Tôn! Nếu có Bật Sô, Bật Sô Ni, Ô Ba Tác Ca, Ô Ba Tư Ca trì Kinh này thời vị Nhân Vương kia tùy theo chỗ họ cần dùng mà cung cấp cúng dường khiến cho không có thiếu thốn. Bốn Thiên Vương chúng con khiến cho vị Quốc Chủ kia với người trong nước thảy đều an ổn, xa lìa tai họa.
Thế Tôn! Nếu có người thọ trì, đọc tụng Kinh Điển này mà Nhân Vương cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi người này thì chúng con sẽ khiến cho vị vua ấy ở trong các vua được cung kính, tôn trọng, rất ư bậc nhất. Các quốc vương khác cùng nhau khen ngợi”

Đại Chúng nghe xong, vui vẻ thọ trì 

KIM QUANG MINH TOI THANG VUONG KINH


PHẬT LỊCH 2558

KIM QUANG MINH 
TỐI THẮNG VƯƠNG KINH





Biên dịch: HUYỀN THANH
         
Kinh Mật Giáo: http://kinhmatgiao.wordpress.com  
SƠ LƯỢC VỀ KINH KIM QUANG MINH

Kinh Kim quang Minh tên Phạn là Suvarṇa-prabhāsa, tên Tây Tạng là Gser-ḥoddam-pa mdo-sḍcḥi dbaṅ-poḥi rgyai-po. Tên đầy đủ là Kim quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (Suvarṇa-prabhāsottama-rāja-sūtra) hay Kim Quang Minh Tối Thắng Kinh (Suvarṇa-prabhāsottama-sūtra)
Đời Bắc Lương, niên hiệu Huyền Thủy (312_427): Đàm Vô Sấm (Dharma-kṣema, hay Dharma-rakṣa) dịch bộ Kim Quang Minh Kinh gồm 4 quyển, 18 Phẩm
Tiếp đến đời Lương, Thiên Thánh năm đầu tiên (552): Chân Đế (Paramārtha) dịch thành 7 quyển, hiệu chỉnh các Phẩm trong bản dịch Bắc Lương và bổ sung thêm  4 Phẩm: Tam Thân phân biệt, Nghiệp Chướng diệt, Đà La Ni Tối Tịnh Địa, Y Không mãn nguyện thành 22 Phẩm
Đời Bắc Chu, thời Vũ Đế (561_578): Gia Xá Quật Đa (Yaśo-gupta) lại dịch thành 5 quyển. Ngoài các Phẩm trong bản dịch Bắc Lương, dịch bổ sung thêm hai Phẩm: Thọ Lượng Đại Biện Đà La Ni
Đời Tùy, Xà Na Quật Đa (Jñāna-gupta) lại dịch bồ sung thêm hai Phẩm: Ngân Chủ Đà La Ni Chúc Lụy  
Đời Tùy, Khai Hoàng năm thứ 17 (597): Sa Môn Bảo Quý ở chùa Đại Hưng Thiện đã tổng hợp bản dịch của các nhà, san đồng bổ sung vào chỗ thiếu thành Hợp Bộ Kim Quang Minh Kinh gồm 8 quyển, 24 Phẩm 
Cuối cùng, đời Vũ Chu, Trường An năm thứ 3 (703) Nghĩa Tịnh dịch ra bộ Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh gồm 10 quyển, 31 Phẩm. Do Phẩm Mục, Nghĩa Lý của bản dịch này rất ư hoàn bị, phong cách tao nhã và rõ ràng nên được lưu hành rộng rãi
_Ý nghĩa nội dung của 31 Phẩm này là: 
Tự Phẩm đầu tiên là phần Tựa.
9 Phẩm kế tiếp là phần Chính Tông 
21 Phẩm còn lại là phần Lưu Thông
Lại dựa theo nghĩa lý trong 9 Phẩm của phần Chính Tông thì: 2 Phẩm đầu minh họa về Quả, 5 Phẩm kế tiếp minh họa về Hành, 2 Phẩm cuối minh họa về Cảnh 
1_Trong 2 phẩm minh họa về Quả thì: Phẩm Thọ Lượng: do Diệu Tràng nghi ngờ hỏi Thọ Mệnh của Đức Như Lai do nhân nào mà lại ngắn ngủi? Để nói Thọ Lượng của Đức Như Lai là vô lượng, chỉ vì lợi ích cho chúng sinh nên hiện bày ngắn ngủi. Lại nói mọi loại 10 Pháp hay giải Lý Thú chân thật của Như Lai, nói có Đại Bát Niết Bàn
Tiếp đến Phẩm Phân biệt ba Thân: Do Hư Không Tạng thỉnh hỏi, nên nói rõ Phật có 3 Thân Pháp, Ứng, Hóa. Ở đây giải thích vấn đề Thân Phật được phát sinh trong thời kỳ đầu tiên của Đại Thừa, tương thông với Phẩm Thọ Lượng trong Kinh Pháp Hoa
2_Trong 5 Phẩm minh họa về Hành thì: Phẩm Mộng Kiến Sám Hối đầu tiên nói Diệu Tràng nằm mộng thấy vị Bà La Môn đánh cái trống vàng phát ra âm thanh, nói Pháp Sám Hối
Tiếp đến, Phẩm Diệt Nghiệp Chướng: Do Đế Thích hỏi nên nói tu hành Đại Thừa, nhiếp nhận hữu tình điên đảo nghiêng lệch từng tạo nghiệp chướng, Pháp Sám Hối trừ diệt… dùng phần trên làm Địa Tiền Hành  
Tiếp đến, Phẩm Tối Tịnh Địa Đà La Ni nói Hạnh của mười Địa, phát Tâm Bồ Đề làm Nhân của mười Độ (10 Ba La Mật). Lại y theo mọi loại 5 Pháp thành tựu mười Độ, tướng trạng của mười Địa với danh nghĩa, chướng ngại của mười Địa; các Độ (Ba La Mật) mà mười Địa đã hành, Tam Ma Địa được sinh ra, cuối cùng nói Đà La Ni mà các Địa đã được hộ trì
Tiếp đến, Phẩm Liên Hoa Dụ Tán nói nhân duyên của Pháp Sám Hối, tức quá khứ Kim Long Chủ Vương thường dùng hoa sen ví dụ khen ngợi chư Phật, kèm theo nói văn xưng tán
Tiếp đến, Phẩm Kim Thắng Đà La Ni nói thọ trì Đà La Ni này tức là cúng dường chư Phật, được Thọ Ký ấy, tùy theo chỗ mong cầu, không có gì chẳng viên mãn
3_Trong 2 Phẩm minh họa về Cảnh thì: Phẩm Trùng hiển Không Tính lược nói Pháp Không (Śūnya: trống rỗng) khiến cho người nghe ngộ nhập vào nghĩa thù thắng, chính đúng tu Xuất Ly
Tiếp đến, Phẩm Y Không mãn nguyện nói y theo Không Tính (Śūnyatā: Tính trống rỗng) hành Pháp Bồ Đề, tu Hạnh bình đẳng. Trong Phẩm này Như Ý Bảo Quang Diệu Thiên Nữ nghe Pháp khai ngộ, liền chuyển thân nữ làm thân Phạm Thiên, được Đức Phật thọ Ký, tương tự như Long Nữ chuyển thân thành Phật trong Kinh Pháp Hoa
4_Từ cuối phần Chính Tông trở xuống có 21 Phẩm rộng nói về chư Thiên hộ giúp đời, tăng tiền của, biện luận khéo léo, trừ tai vạ, hiển lợi ích của Kinh, Thọ Ký, trừ nghi, thỉnh nói nhân xưa kia, Khổ Hạnh. Cuối cùng là Bồ Tát đồng khen ngợi cùng với Đức Như Lai phó chúc đều thuộc phần Lưu Thông. 
So sánh với Lược Bản được dịch trong Đời Lương thì bản dịch này tăng thêm Đà La Ni rất nhiều, do vậy có người đem Kinh Bản này nhập vào Bí Mật Bộ (như Tây Tạng Tạng Văn Đại Tạng Kinh) 

_Hiện nay, ở Nepal có lưu giữ bản Phạn 21 Phẩm, đại đồng với bản dịch đời Lương
Bản tiếng  Phạn của kinh Kim Quang Minh được biên tập lần đầu tiên vào năm 1898 tại Calcutta, Ấn Độ bởi hai tác giả S.C. DasS.C. Shastri chỉ có 25 Phẩm, chẳng hoàn toàn 
Kinh Kim Quang Minh được biết đến tại Nhật Bản vào thế kỷ thứ 7 và đóng một vai trò quan trọng đối với Phật giáo Nhật Bản, cùng với Kinh Pháp Hoa, Kinh Nhân Vương được xem là ba bộ Kinh trấn hộ đất nước. Dưới sự bảo trợ của Hoàng gia, bốn bản kinh đã được dịch ra tiếng Nhật bởi Jina-mitra, Śīlendra-bodhi và những dịch giả khác. Một phiên bản tiếng Nhật cũng được
soạn thảo bởi Nanjio và được xuất bản bởi môn đồ của ông là Izumiin vào năm 1931. 
Các bản dịch tiếng Tây Tạng từ kinh bản tiếng Phạn đã được tổng hợp và biên tập bởi giáo sư Nobel. Bản tiếng Tây Tạng đầu tiên được dịch bởi Sud-gu-śoka (?Mūla-śoka) và Jñāna-kumāra vào nửa đầu thế kỷ thứ 8. Bản thứ hai được dịch bởi Jina-mitra (Thắng Hữu) , Śīlendra-bodhiYe-śes-sde vào đầu thế kỷ thứ 9. Bản thứ ba được dịch bởi Chos-grub. Bản thứ hai căn cứ trên một bản tiếng Phạn không khác mấy so với bản Phạn đã sử dụng cho bản thứ nhất, nhưng bản thứ ba lại là một bản dịch từ phiên bản nổi tiếng của Nghĩa Tịnh. Các bản kinh thuộc Chính Tạng “Kanjur” do Nobel sử dụng cho thấy có hai phiên bản: một phiên bản được thuộc về Hồng Tạng (Kanjur đỏ) được in block lưu trữ tại thư viện quốc gia - Paris và Tạng “Kanjur” chép tay lưu trữ tại thư viện quốc gia Phổ - Berlin. Phiên bản sau đã đã hiệu đính, lại có trong Hồng Tạng được lưu trữ tại Đại học Cambridge. 
Kinh Kim Quang Minh không những được dịch sang tiếng Tây Tạng và Trung Hoa mà còn được dịch sang các thứ tiếng như: Anh (English), Duy Ngô Nhĩ (Uighur), Mông Cổ (Mongol), Túc Đặc (Sogdian), Vu Điền (Khotanese), Đảng Hạng (Tangut). 
Kinh Kim Quang Minh được lưu trữ thông qua số lượng lớn những bản chép tay  bằng nhiều loại ngôn ngữ Trung Á khác nhau. Thư viện Anh quốc lưu giữ 8 mảnh thủ bản kinh Kim Quang Minh rất cổ có nguồn gốc từ Färhäd Beg Yailiki. Một mảnh thủ bản nhỏ không còn nguyên vẹn được in block kiểu bản xếp của kinh này được khai quật trong chuyến thám hiểm của người Đức đầu tiên tại Trung Á, Grunwedel (1902-1903). Ngay sau khi khám phá, bản kinh đã được nghiên cứu và ấn hành bởi Heinrich Stonner vào năm 1904. Từ đó trở đi, bản kinh dần dần được nhiều học giả người Đức khác nghiên cứu. Trong danh mục của mình, Ernest Waldschmidt đã biên tập bản kinh rất kỹ lưỡng. Trong thời gian gần đây (2004) Akira Yuyama đã khảo sát tất cả các thủ bản Trung Á.
Phiên bản tiếng Duy Ngô Nhĩ của kinh này có hai bộ sưu tập chính: bộ Altun Yaruq (hiện được bảo tồn tại Viện Vostokovedenija, St. Petersburg) và bộ Turfansammlung. Bộ thứ nhất đã được biên dịch sang Hán ngữ vào thế kỷ thứ 10. 

 _Nay do sự yêu cầu của các bạn đồng tu muốn tự mình hiểu rõ hơn về nghĩa thú của Kinh Kim Quang Minh; nên tôi cố gắng sưu tầm và phục hồi các Đà La Ni, phiên dịch lại bộ Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh 
Điều không thể tránh khỏi là bản phiên dịch này vẫn còn nhiều thiếu sót. Ngưỡng mong các Bậc Cao Tăng Đại Đức, chư vị Thiện Tri Thức hãy rũ lòng Từ Bi chỉ dạy, giúp cho tôi kịp thời sửa chữa những lỗi lầm và hoàn thiện phần ghi chép này.
Mọi Công Đức có được trong tập ghi chép này, con xin kính dâng lên hương linh của Thân Phụ (Nguyễn Vũ Nhan) và Thân Mẫu (Vũ Thị Ni) là hai bậc ân nhân đầu tiên của con.
Con xin kính dâng các Công Đức có được lên Thầy Thích Quảng Trí và Thầy Thích Pháp Quang là các bậc Thầy luôn theo dõi, hỗ trợ và thúc đẩy con nghiên cứu Phật Pháp cho chính đúng.
Tôi xin cám ơn em Mật Trí (Tống Phước Khải) đã nhiệt tình hỗ trợ các tư liệu Phạn Hán Anh giúp cho việc hoàn tất bản dịch này.
Tôi xin chân thành cám ơn người bạn đường Ngọc Hiếu (Vũ Thị Thanh Hà) đã cam chịu mọi sự khó khăn trong cuộc sống để giúp tôi an tâm trên con đường tìm hiểu Chính Pháp Giải Thoát của Đấng Phật Đà.
Cuối cùng nguyện xin hồi hướng Công Đức này đến toàn thể chúng hữu tình trong ba cõi sáu đường đều mau chóng xa lìa mọi ách nạn khổ đau, thường được an vui, thọ hưởng Pháp Vị Giải Thoát của Đấng Phật Đà.
                                                                  
                                                           Mùa Thu năm Giáp Ngọ (2014)
                                                  Huyền Thanh (Nguyễn Vũ Tài) kính ghi 










Đại Tạng Kinh_ Tập 16_ No.665
 
KIM QUANG MINH TỐI THẮNG VƯƠNG KINH
_QUYỂN THỨ NHẤT_
 
Hán dịch: Đại Đường Tam Tạng Sa Môn NGHĨA TỊNH phụng chế dịch
Việt dịch: HUYỀN THANH
  
TỰA
_PHẨM THỨ NHẤT_
 
Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Phật ngự trên ngọn núi Kỳ Xà Quật (Gṛdhra-kuṭa) tại thành Vương Xá (Rāja-gṛha), ở Pháp Giới (Dharma-dhātu) rất thanh tịnh thâm sâu, là cảnh của chư Phật, nơi cư ngụ của Như Lai, cùng với Chúng Đại Bật Sô (Mahatā bhikṣu-saṃgha) gồm chín vạn tám ngàn người đều là A La Hán (Arhate), hay khéo điều phục như voi chúa lớn (Mahā-hāsti-rāja: đại Tượng Vương), đã trừ các Lậu (Āsvara:sự chảy rỉ, tên riêng của phiền não) không có phiền não nữa, Tâm khéo giải thoát, Tuệ khéo giải thoát, chỗ cần làm đã làm xong, buông bỏ các gánh nặng, đạt được lợi mình, hết các Hữu Kết (quả báo của sinh tử), được đại tự tại, trụ Giới thanh tịnh, phương tiện khéo léo, Trí Tuệ trang nghiêm, chứng tám Giải Thoát, đã đến bờ bên kia (Pāramita). Các vị ấy tên là: Cụ Thọ (Āyuṣmat: lời tôn xưng hàng A La Hán) A Nhã Kiều Trần Như (Ājñātakauṇḍinya), Cụ Thọ A Thuyết Thị Đa (Aśvajita), Cụ Thọ Bà Thấp Ba (Vāṣpa), Cụ Thọ Ma Ha Na Ma (Mahā-nāma), Cụ Thọ Bà Đế Lợi Ca (Bhadra), Cụ Thọ Đại Ca Nhiếp Ba (Mahā-kāśyapa), Ưu Lâu Tần Loa Ca Nhiếp (Urubilvā-kāśyapa), Già Gia Ca Nhiếp (Gayā-kāśyapa), Na Đề Ca Nhiếp (Nadī-kāśyapa), Xá Lợi Tử (Śāriputra), Đại Mục Kiền Liên (Mahā-maudgalyāyana). Chỉ có A Nan Đà (Ānanda) trụ ở Học Địa. Các Đại Thanh Văn (Mahā-śrāvaka) của nhóm như vậy đều ở sau bữa trưa, từ Định khởi dậy, đi đến chỗ của Đức Phật, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng, rồi lui ra ngồi một bên.
Lại có Bồ Tát Ma Ha Tát đủ trăm ngàn vạn ức người, có uy đức lớn, như vua Rồng lớn (Mahā-nāgarāja: đại long vương); danh tiếng vang khắp, mọi người đều biết; Thí (Dāna) Giới (Śīla) thanh tịnh, thường ưa thích phụng trì Nhẫn Hạnh (Kṣānti) Tinh Cần (Vīrya) trải qua vô lượng kiếp; vượt qua các Tĩnh Lự (Dhyāna:Thiền Định) cột niệm ở trước mặt; mở toang cửa Tuệ (Prajña-mukhe), khéo tu phương tiện (Upāya), du hý tự tại, Thần Thông (Abhijñā) vi diệu, đạt được Tổng Trì (Dhāraṇī), Biện Tài không tận; chặt đứt các phiền não, trói nhiễm đều quên; chẳng lâu sẽ thành Nhất Thiết Chủng Trí (Sarvathā-jñāna), giáng phục quân chúng Ma, rồi đánh cái trống Pháp (Dharma-dundubhi) chế ngự Ngoại Đạo (Tīrthaka) khiến khởi Tâm trong sạch; chuyển bánh xe Diệu Pháp (Saddharma) hóa độ chúng Trời Người; đều đã trang nghiêm cõi Phật ở mười phương; hữu tình trong sáu nẻo không có ai chẳng nương nhờ lợi ích; thành tựu Đại Trí, đầy đủ Đại Nhẫn; trụ Tâm Đại Từ Bi, có sức thật bền
chắc; trải qua việc phụng sự chư Phật, chẳng vào Niết Bàn (Nirvāṇa); phát Tâm thệ nguyện rộng, cùng tận bờ mé vị lai; Rộng ở chỗ của Đức Phật gieo trồng trồng sâu Nhân (Hetu) trong sạch; nơi Pháp của ba đời ngộ Vô Sinh Nhẫn (Anutpattika-kṣānti). Dạo chơi nơi cảnh giới mà hàng nhị Thừa đã thực hành, dùng sự khéo léo rộng lớn hóa đạo Thế Gian, đối với sự dạy bảo của Đại Sư đều hay diễn bày Pháp bí mật, đều đã biết rõ Tính trống rỗng (Śūnyatā: Không Tính) thâm sâu, không có nghi ngờ nữa.

Các vị ấy tên là: Vô Chướng Ngại Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, Thường Phát Tâm Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, Thường Tinh Tiến Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát, Diệu Cát Tường Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Tổng Trì Tự Tại Bồ Tát, Đại Biện Trang Nghiêm Vương Bồ Tát, Diệu Cao Sơn Vương Bồ Tát, Đại Hải Thâm Vương Bồ Tát, Bảo Tràng Bồ Tát, Đại Bảo Tràng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Bảo Thủ Tự Tại Bồ Tát, Kim Cương Thủ Bồ Tát, Hoan Hỷ Lực Bồ Tát, Đại Pháp Lực Bồ Tát, Đại Trang Nghiêm Quang Bồ Tát, Đại Kim Quang Trang Nghiêm Bồ Tát, Tịnh Giới Bồ Tát, Thường Định Bồ Tát, Cực Thanh Tịnh Tuệ Bồ Tát, Kiên Cố Tinh Tiến Bồ Tát, Tâm Như Hư Không  Bồ Tát, Bất Đoạn Đại Nguyện Bồ Tát, Thí Dược Bồ Tát, Liệu Chư Phiền Não Bệnh Bồ Tát, Y Vương Bồ Tát, Hoan Hỷ Cao Vương Bồ Tát, Đắc Thượng Thọ Ký Bồ Tát, Đại Vân Tịnh Quang Bồ Tát, Đại Vân Trì Pháp Bồ Tát, Đại Vân Danh Xưng Thiện Lạc Bồ Tát, Đại Vân Hiện Vô Biên Xưng Bồ Tát, Đại Vân Sư Tử Hống Bồ Tát, Đại Vân Ngưu Vương Hống Bồ Tát, Đại Vân Cát Tường Bồ Tát, Đại Vân Bảo Đức Bồ Tát, Đại Vân Nhật Tạng Bồ Tát, Đại Vân Nguyệt Tạng Bồ Tát, Đại Vân Tinh Quang Bồ Tát, Đại Vân Hỏa Quang Bồ Tát, Đại Vân Điện Quang Bồ Tát, Đại Vân Lôi âm Bồ Tát,  Đại Vân Tuệ Vũ Sung Biến Bồ Tát,  Đại Vân Thanh Tịnh Vũ Vương Bồ Tát, Đại Vân Hoa Thụ Vương Bồ Tát, Đại Vân Thanh Liên Hoa Hương Bồ Tát, Đại Vân Bảo Chiên Đàn Hương Thanh Lương Thân Bồ Tát, Đại Vân Trừ Ám Bồ Tát, Đại Vân Phá Y Bồ Tát. Vô lượng chúng Đại Bồ Tát của nhóm như vậy đều ở sau bữa trưa, từ Định khởi dậy, đi đến chỗ của Đức Phật, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng, rồi lui ra ngồi một bên.
_Lại có Lê Xa Tỳ Đồng Tử (Litsavi-kumāra) gồm năm ức tám ngàn người. Các vị ấy tên là: Sư Tử Quang Đồng Tử, Sư Tử Tuệ Đồng Tử, Pháp Thụ Đồng Tử, Nhân Đà La Thụ Đồng Tử, Đại Quang Đồng Tử, Đại Mãnh Đồng Tử, Phật Hộ Đồng Tử, Pháp Hộ Đồng Tử, Tăng Hộ Đồng Tử, Kim Cương Bộ Đồng Tử, Hư Không Bộ Đồng Tử, Hư Không Hống Đồng Tử, Bảo Tạng Đồng Tử, Cát Tường Diệu Tạng Đồng Tử. Nhóm người như vậy là bậc Thượng Thủ (Pramukha) thảy đều an trụ Vô Thượng Bồ Đề (Agra-bodhi), ở trong Đại Thừa (Mahā-yana) vui vẻ tin tưởng sâu xa, đều ở sau bữa trưa, đi đến chỗ của Đức Phật, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng, rồi lui ra ngồi một bên.
_Lại có bốn vạn hai ngàn vị Thiên Tử (Devaputra). Các vị ấy tên là: Hỷ Kiến Thiên Tử, Hỷ Duyệt Thiên Tử, Nhật Quang Thiên Tử, Nguyệt Kế Thiên
Tử, Minh Tuệ Thiên Tử, Hư Không Tịnh Tuệ Thiên Tử, Trừ Phiền Não Thiên Tử, Cát Tường Thiên Tử. Nhóm Thiên Tử như vậy là bậc Thượng Thủ, đều phát Nguyện rộng hộ trì Đại Thừa, kế thừa phát dương Chính Pháp hay khiến cho chẳng dứt, đều ở sau bữa trưa, đi đến chỗ của Đức Phật, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng, rồi lui ra ngồi một bên.
_Lại có hai vạn tám ngàn vị Long Vương (Nāga-rāja): Liên Hoa Long Vương, Y La Diệp Long Vương, Đại Lực Long Vương, Đại Hống Long Vương, Tiểu Ba Long Vương, Trừ Quyết Thủy Long Vương, Kim Diện Long Vương, Như Ý Long Vương. Nhóm Long Vương như vậy là bậc Thượng Thủ, đối với Pháp Đại Thừa thường ưa thích thọ trì, phát Tâm tin tưởng sâu xa, đều ở sau bữa trưa, đi đến chỗ của Đức Phật, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng, rồi lui ra ngồi một bên.
_Lại có ba vạn sáu ngàn các chúng Dược Xoa (Yakṣa) do Tỳ Sa Môn Thiên Vương (Vaiśravaṇa) làm Thượng Thủ. Các vị ấy tên là: Am Bà Dược Xoa, Trì Am Bà Dược Xoa, Liên Hoa Quang Tạng Dược Xoa, Liên Hoa Diện Dược Xoa, Tần My Dược Xoa, Hiện Đại Bố Dược Xoa, Động Địa Dược Xoa, Thôn Thực Dược Xoa. Nhóm Dược Xoa đó thảy đều yêu thích Chính Pháp của Như Lai, thâm tâm hộ trì chẳng sinh mệt mỏi lười biếng, đều ở sau bữa trưa, đi đến chỗ của Đức Phật, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng, rồi lui ra ngồi một bên.
_Lại có bốn vạn chín ngàn Yết Lộ Trà Vương (Garuḍa-rāja) do Hương Tượng Thế Lực Vương là bậc Thượng Thủ với hàng Kiện Thát Bà (Gandharva), A Tô La (Asura), Khẩn Na La (Kiṃnara), Mạc Hô Lạc Già (Mahoraga), tất cả Thần Tiên ở núi, rừng, sông, biển kèm với hết thảy chúng vua, Hậu Phi trong cung, Nam Nữ có niềm tin trong sạch ở các nước lớn, Đại chúng người Trời thảy đều vân tập, đều nguyện ủng hộ Đại Thừa vô thượng, đọc tụng, thọ trì, viết chép, lưu bày, đều ở sau bữa trưa, đi đến chỗ của Đức Phật, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng, rồi lui ra ngồi một bên.
Như vậy, nhóm Thanh Văn, Bồ Tát, Đại Chúng NgườiTrời, tám Bộ Rồng Thần đã vân tập xong, mỗi mỗi đều chí Tâm, chắp tay cung kính, chiêm ngưỡng dung nhan của Đức Thế Tôn chẳng chớp mắt, vui nguyện muốn nghe Pháp màu nhiệm thù thắng. 
 
_Bấy giờ, Đức Bạc Già Phạm (Thế Tôn) ở sau bữa trưa, từ Định khởi dậy, quán sát Đại Chúng rồi nói Tụng là: 
“Diệu Pháp Kim Quang Minh (Suvarṇa-prabhāsa)
Vua các Kinh tối thắng
Thâm sâu, khó được nghe
Cảnh giới của chư Phật
Ta sẽ vì Đại Chúng
Tuyên nói Kinh như vậy
Kèm bốn Phật bốn phương
Uy Thần cùng gia hộ
Phương Đông A Súc Tôn (Akṣobhya)
Phương Nam: Bảo Tướng Phật (Ratna-ketuna)
Phương Tây: vô Lượng Thọ (Amitāyuḥ)
Phương Bắc: Thiên Cổ Âm (Divya-duṇḍubhi-svara)
Ta lại diễn Diệu Pháp
Thắng (thù thắng) trong Sám cát tường
Hay diệt tất cả tội
Tịnh trừ các nghiệp ác
Với tiêu mọi nạn khổ
Thường cho vô lượng vui
Gốc rễ Nhất Thiết Trí (Sarva-jñā)
Các Công Đức (Guṇa) trang nghiêm
_Chúng sinh: chẳng đủ thân
Tướng thọ mệnh tỗn giảm
Các tướng ác hiện tiền
Thiên Thần đều buông lìa
Thân hữu ôm sân hận
Quyến thuộc đều chia lìa
Nhóm ấy cùng trái ngược
Trân tài đều tan mất
Sao ác gây biến quái
Bị Tà Cổ xâm hại
Hoặc lại nhiều lo buồn
Mọi nỗi khổ ép bức
Nằm ngủ thấy mộng ác
Nhân đây, sinh phiền não.
_Người đó nên tắm gội
Nên mặc áo sạch mới
Nơi Diệu Kinh Vương này
Nơi Phật khen sâu xa
Chuyên chú Tâm không loạn
Đọc tụng, nghe, thọ trì
Do uy lực Kinh này
Hay lìa các tai vạ
Với mọn nạn khổ khác
Không gì chẳng trừ diệt
Cúng bốn vương Hộ Thế (Loka-pāla)
Với Đại Thần, quyến thuộc
Vô Lượng các Dược Xoa
Một lòng đều bảo vệ
Đại Biện Tài Thiên Nữ (Sarasvatī)
Thủy Thần sông Ni Liên (Nairañjanavāsinī-devatā)
Ha Lợi Đế Mẫu Thần  (Hārītī)
Chúng Kiên Lao Địa Thần (Dṛḍhā-pṛthivī-devatā)
Phạm Vương (Brahma), Đế Thích Chủ (Indra)
Long Vương (Nāga-rāja), Khẩn Na La (Kiṃnara)
Với Kim Sí Điểu Vương (Garuḍa-rāja)
A Tô La  (Asura), chúng Trời (Deva-gaṇa)
Nhóm Thiên Thần như vậy
Cùng đem các Quyến thuộc
Đều đến giúp ngưới đó
Ngày đêm thường chẳng lìa
_Ta sẽ nói Kinh này
Phật Hành Xứ (Buddha-gocara: Hành Xứ của Đức Phật) thâm sâu
Giáo bí mật của Phật
Ngàn vạn kiếp khó gặp
Nếu có nghe Kinh đó
Hay vì người diễn nói
Hoặc Tâm sinh tùy vui
Hoặc bày biện cúng dường
Các nhóm người như vậy
Sẽ ở vô lượng kiếp
Thường được các Trời, Người
Rồng, Thần đều cung kính
Nhóm Phước này vô lượng
Hơn số cát sông Hằng
Người đọc tụng Kinh đó
Sẽ được Công Đức này
Cũng được mười phương Tôn
Các Bồ Tát hạnh sâu
Ủng hộ người trì Kinh
Khiến lìa các nạn khổ
_Người cúng dường Kinh này
Như trước, tắm gội thân
Thức ăn uống, hương hoa
Luôn khởi ý Từ Bi
Nếu muốn nghe Kinh đó
Khiến Tâm sạch, không dơ
Thường sinh niệm vui vẻ
Tăng trưởng các Công Đức
_Nếu dùng Tâm tôn trọng
Người lắng nghe Kinh này
Khéo sinh vào cõi người
Xa lìa các nạn khổ
Căn lành ấy thành thục
Nơi chư Phật khen ngợi
Mới được nghe Kinh đó
Với dùng Pháp Sám Hối
 
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh
THỌ LƯỢNG CỦA  NHƯ LAI
_PHẨM THỨ HAI_
 
Bấy giờ, Đại Thành Vương Xá có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Diệu Tràng (Rucira-ketu: Diệu Tràng, hay Tín Tướng) đã ở chỗ của vô lượng câu chi na dữu đa trăm ngàn Phật trong quá khứ, thừa sự, cúng dường, gieo trồng các căn lành.
Lúc đó, Diệu Tràng Bồ Tát ở một mình tại nơi yên tĩnh, tác suy nghĩ này: “Do nhân duyên nào mà Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai có thọ mạng ngắn ngủi, chỉ có tám mươi năm?”
Lại tác niệm này: “Như Đức Phật đã nói, có hai nhân duyên được thọ mạng lâu dài. Thế nào là hai? Một là chẳng hại sinh mạng, hai là cho người khác thức ăn uống. Mà Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai từng ở vô lượng trăm ngàn vạn ức vô số Đại Kiếp chẳng hại sinh mạng, hành Thập Thiện Đạo, thường đem thức ăn uống ban cho tất cả chúng sinh đói khát, cho đến máu thịt xương tủy của thân mình cũng cầm, đem cho khiến họ được no đủ, huống chi là thức ăn uống khác?!...”
Khi Vị Bồ Tát ấy ở chỗ của Đức Thế Tôn tác niệm này thời do uy lực của Đức Phật, cái thất ấy đột nhiên rộng rãi nghiêm tịnh, với Đế Thanh (Indranilamuktā: ngọc báu màu xanh), Lưu Ly (Vaiḍurya) mọi loại vật báu đủ màu xen kẽ tô điểm như tịnh thổ của Phật, có hương thơm màu nhiệm vượt hơn các thứ hương của cõi Trời, thơm phức tràn đầy. Ở bốn mặt ấy đều có tòa sư tử thượng diệu do bốn báu tạo thành, dùng áo báu của cõi Trời phủ lên trên. Lại ở tòa này có hoa sen màu nhiệm, dùng mọi loại trân bảo nghiêm sức tương xứng với Đức Như Lai tự nhiên hiển hiện. Ở trên hoa sen có bốn Đức Như Lai: Bất Động (Akṣobhya) ở phương Đông, Bảo Tướng (Ratna-ketuna) ở phương Nam, Vô Thượng Thọ (Amitāyuḥ) ở phương Tây, Thiên Cổ Âm (Divya-duṇḍubhi-svara) ở phương Bắc. Bốn Đức Như Lai đó đều ngồi Kiết Già trên tòa ấy, phóng ánh sáng lớn chiếu sáng vòng khắp đại thành Vương Xá (Rāja-gṛha) với ba ngàn Đại Thiên Thế Giới cho đến cõi nước của hằng hà sa đẳng chư  phật ở mười phương, tuôn mưa các hoa của cõi Trời, tấu các âm nhạc của cõi Trời
Bấy giờ, ở trong Thiệm Bộ Châu (Jambu-dvīpa) này với ba ngàn Đại Thiên Thế Giới: hết thảy chúng sinh do uy lực của Đức Phật nhận được niềm vui màu nhiệm thù thắng, không có thiếu thốn. Nếu thân chẳng đủ đều nhận được đầy đủ, người mù được nhìn thấy, người điếc được nghe, người câm hay nói được, người ngu được Trí. Nếu người loạn tâm thì được lại Bản Tâm, nếu người không có quần áo thì được quần áo, kẻ xấu xí hèn mọn được người kính trọng, kẻ dơ bẩn thì được thân thanh khiết. Ở Thế Gian này, hết thảy lợi ích, việc chưa từng có thảy đểu hiển hiện
Khi ấy, Diệu Tàng Bồ Tát thấy bốn Đức Như Lai với việc hiếm có thì vui mừng hớn hở, chắp tay, một lòng chiêm ngưỡng tướng thù thắng của chư Phật, cũng lại suy nghĩ: “Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai có vô lượng Công Đức, chỉ đối với thọ mạng thì sinh Tâm nghi ngờ. Tại sao Như Lai có Công Đức vô lượng mà thọ mạng ngắn ngủi, chỉ có 80 năm?!...”
Bấy giờ, bốn Đức Phật bảo Diệu Tràng Bồ Tát rằng: “Này Thiện Nam Tử! Nay ông chẳng nên suy nghĩ về thọ mạng dài ngắn của Đức Như Lai. Tại sao
thế? Thiện Nam Tử! Chúng Ta chẳng thấy chư Thiên (Deva), Thế Gian (Laukika), Phạm (Brahma), Ma (Mārā), Sa Môn (Śramaṇa), Bà La Môn (Brāhman), Người (Manuṣa) với Phi Nhân (Amanuṣa) nào có thể tính biết Thọ lượng (Āyuḥ-pramāṇa: lượng tuổi thọ) của Đức Phật, biết được hạn cùng cực ấy. Chỉ trừ bậc Vô Thượng Chính Biến Tri

_Thời bốn Đức Như Lai muốn nói hết thảy thọ lượng của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Do uy lực của Đức Phật: chư Thiên của cõi Dục (Kāma-dhātu) với cõi Sắc (Rūpa-dhātu), các Rồng (Nāga), Quỷ (Preta), Thần (Deavatā), Kiện Thát Bà (Gandharva), A Tô La (Asura), Yết Lộ Trà (Garuḍa), Khẩn Na La (Kiṃnara), Mạc Lô Lạc Già (Mahoraga) với vô lượng trăm ngàn ức na dữu đa Bồ Tát Ma Ha Tát thảy đều tập hội, vào trong cái thất màu nhiệm thanh tịnh của Diệu Tràng Bồ Tát.
Bấy giờ, bốn Đức Phật ở trong Đại Chúng, muốn hiển hết thảy thọ lượng của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai, nên nói Tụng rằng: 
“_Tất cả nước các biển
Có thể biết số giọt
Không có thể đếm biết
Thọ Lượng của Thích Ca
_Chẻ các núi Diệu Cao (Sumeru:núi Tu Di)
Thành các hạt cải nhỏ
Vẫn có thể biết số
Không có thể đếm biết
Thọ Lượng của Thích Ca
_Tất cả đất Đại Địa
Có thể biết số bụi
Không có thể đếm biết
Thọ Lượng của Thích Ca
_Giả sử lượng Hư Không
Vẫn biết tận bờ mé
Không có thể đo biết
Thọ Lượng của Thích Ca
_Nếu người trụ ức kiếp
Hết sức thường tính đếm
Cũng lại chẳng thể biết
Thọ Lượng của Thế Tôn
_Chẳng hại mạng chúng sinh
Với cho thức ăn uống
Do hai loại Nhân (Hetu) này
Được thọ mạng lâu dài
Thế nên, Đại Giác Tôn
Thọ mạng khó biết số
Như kiếp không bờ mé
Thọ lượng cũng như vậy
_Diệu Tràng! Ông nên biết
Chẳng nên khởi nghi ngờ
Thọ tối thắng vô lượng
Không ai biết được số”
 
Khi ấy, Diệu Tràng Bồ Tát nghe bốn Đức Như Lai nói thọ lượng của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật không có giới hạn, nên bạch rằng: “Thế Tôn! Vì sao Đức Như Lai hiện bày lượng tuổi thọ ngắn ngủi như vậy?”
Thời bốn Đức Thế Tôn bảo Diệu Tràng Bồ Tát rằng: “Này Thiện Nam Tử! Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ấy ở đời năm Trược [Pañca-kaṣāya: gồm có Kiếp Trược (Kalpa–kaṣāya), Kiến Trược (Dṛṣṭi-kaṣāya), Phiền Não Trược (Kleśa-kaṣāya), Chúng Sinh Trược (Satva-kaṣāya), Mệnh Trược (āyuskaṣāya)]. Khi hiện ra thời tuổi thọ của con người khoảng một trăm năm, bẩm tính thấp kém, căn lành nhỏ bé mỏng manh, lại không có Tín Giải (Adhimukti: y theo lời nói mà được sự hiểu biết thù thắng). Các chúng sinh này, phần lớn có quan điểm sai lầm là cố chấp thật có ta, thật có người, thật có chúng sinh, thật có thọ mạng. Nuôi dưỡng Tà Kiến (Mithyā-dṛṣṭi: kiến giải trái ngược chẳng hợp lý), quan điểm: thật có ta (Ātman: ngã), thật có cái của ta (Mama-kāra: ngã sở) với nhóm Đoạn Kiến (Uccheda-dṛṣṭi: quan điểm cho rằng khi thân này chết là đoạn diệt hết, không còn gì nữa), Thường Kiến (Nitya- dṛṣṭi: quan điểm cho rằng thế giới là thường trụ chẳng biến đổi, tự ngã của nhân loại chẳng diệt, sau khi loài người chết thì tự ngã cũng chẳng bị tiêu diệt, lại hay tái sinh mà lại dùng hiện trạng nối tiếp, tức nói cái Ta là thường trụ). Vì muốn lợi ích cho các Dị Sinh (Pṛthag-jna: phàm phu, chúng sinh) này với chúng Ngoại Đạo (Tīrthika), đẳng loại như vậy khiến sinh sự hiểu biết chính đúng (chính giải) mau được thành tựu Vô Thượng Bồ Đề (Agra-bodhi). Thế nên Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai hiện bày thọ mạng ngắn ngủi như vậy.
Này Thiện Nam Tử! Như vậy, Đức Như Lai ấy muốn khiến cho chúng sinh thấy Ngài vào Niết Bàn (Nirvāṇa) xong thì sinh tưởng khó gặp, nhóm tưởng lo khổ…đối với Kinh Giáo mà Đức Phật Thế Tôn đã nói, mau sẽ thọ trì, đọc tụng, thông lợi, vì người giải nói, chẳng sinh chê bai chế diễu. Chính vì thế cho nên Đức Như Lai hiện tuổi thọ ngắn ngủi này. Tại sao thế? Vì các chúng sinh ấy nếu thấy Đức Như Lai chẳng Bát Niết Bàn (Parinirvāṇa: nhập vào Niết Bàn) thì chẳng sinh tưởng cung kính, khó gặp. Kinh Điển thâm sâu do Đức Như Lai đã nói cũng chẳng thọ trì, đọc tụng, thông lợi. vì người tuyên nói. Tại sao thế? Do thường thấy Phật nên chẳng tôn trọng vậy. 
Này Thiện Nam Tử! Ví như có người thấy cha mẹ của mình có nhiều tài sản, châu báu dư thừa. Liền đối với tài vật chẳng sinh tưởng hiếm có khó gặp. Tại sao thế? Vì đối với tài sản của cha, sinh tưởng thường có vậy 
Thiện Nam Tử! Các chúng sinh kia cũng lại như vậy. Nếu thấy Đức Như Lai chẳng vào Niết Bàn thì chẳng sinh tưởng hiếm có khó gặp. Tại sao thế?  Vì do thường thấy vậy.

_Này Thiện Nam Tử! Ví như có người, cha mẹ nghèo cùng, thiếu thốn tiền của. Nhưng người nghèo ấy hoặc đến ngà của vua, hoặc nhà của Đại Thần thấy thương khố ấy có mọi loại châu báu thảy đều tràn đầy nên sinh Tâm hiếm có,
Tưởng khó gặp. Thời người nghèo kia vì muốn cầu tiền, rộng bày phương tiện nhắc nhở siêng năng không có lười biếng. Tại sao thế? Vì buông bỏ nghèo cùng, thọ nhận an vui vậy 
Thiện Nam Tử! Các chúng sinh kia cũng lại như vậy. Nếu thấy Đức Như Lai nhập vào Niết Bàn thì sinh tưởng khó gặp, cho đến nhóm tưởng loa khổ. Lại tác niệm này: “Ở vô lượng kiếp, chư Phật Như Lai hiện ra ở đời như hoa Ô Đàm Bạt (Udumbara: Thụy Ứng Hoa) đúng thời mới hiện một lần. Các chúng sinh kia phát Tâm hiếm có, khởi tưởng khó gặp. Nếu gặp Đức Như Lai thì Tâm sinh kính tin, nghe nói Chính Pháp, sinh tưởng Thật Ngữ (lời nói chân thật), hết thảy Kinh Điển thảy đều thọ trì, chẳng sinh hủy báng.
Này Thiện Nam Tử! Do Nhân Duyên đó nên Đức Phật Thế Tôn ấy chẳng trụ lâu ở đời mà mau vào Niết Bàn.
Thiện Nam Tử! Các Như Lai đấy dùng phương tiện khéo léo của nhóm như vậy mà thành tựu chúng sinh”
 
_Bấy giờ, bốn Đức Phật nói lời đó xong, đột nhiên chẳng hiện.
Khi ấy, Diệu Tràng Bồ Tát Ma Ha Tát cùng với vô lượng trăm ngàn Bồ Tát với vô lượng ức na dữu đa trăm ngàn chúng sinh cùng nhau đi đến chỗ của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Chính Biến Tri trong núi Thứu Phong (Gṛdhra-kuṭa), đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật rồi đứng ở một bên. Thời, Diệu Tràng Bồ Tát đem việc như bên trên thưa trình đầy đủ với Đức Thế Tôn
Lúc đó, bốn Đức Như Lai cũng đến Thứu Phong, đến chỗ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đều tùy theo phương của mình chọn tòa ngồi mà ngồi, bảo Bồ Tát Thị Giả (Ante-vāsi) rằng: “Thiện Nam Tử! Nay ông có thể đến chỗ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thay mặt Ta thăm hỏi Ngài có ít bệnh, ít buồn bực, cuộc sống thường ngày có nhẹ nhàng thuận lợi, đi lại an vui chăng?”. Lại nói lời này: “Lành thay! Lành Thay! Thích Ca Mâu Ni Như Lai nay có thể diễn nói Pháp Yếu thâm sâu của Kinh Kim Quang Minh, vì muốn nhiêu ích cho tất cả chúng sinh, trừ khử đói khát khiến được an vui. Ta sẽ tùy vui”
Thời Thị Giả ấy đều đến chỗ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đỉnh lễ hai bàn chân của Đức Phật rồi lui ra đứng một bên, đều bạch Phật rằng: “Đấng Thiên Nhân Sư kia thăm hỏi bậc Vô Lượng có ít bệnh, ít buồn bực, cuộc sống thường ngày có nhẹ nhàng thuận lợi, đi lại an vui chăng?”. Lại nói lời này: “Lành thay! Lành Thay! Thích Ca Mâu Ni Như Lai nay có thể diễn nói Pháp Yếu thâm sâu của Kinh Kim Quang Minh, vì muốn nhiêu ích cho tất cả chúng sinh, trừ khử đói khát khiến được an vui”.
 
Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác bảo các Bồ Tát Thị Giả ấy rằng: “Lành thay! Lành thay! Bốn Đức Như Lai ấy mới hay vì nhiêu ích an vui cho các chúng sinh mà khuyến thỉnh Ta tuyên dương Chính pháp”
Lúc đó, Đức Thế Tôn nói Tụng rằng:
“Ta thường ở núi Thứu
Tuyên nói báu Kinh này
Thành tựu chúng sinh nên
Hiện bày Bát Niết Bàn (Parinirvāṇa: nhập vào Niết Bàn)
Phàm Phu khởi Tà Kiến
Chẳng tin điều Ta nói
Vì thành tựu kẻ ấy
Hiện bày Bát Niết Bàn  
 
Thời trong Đại Hội có vị Bà La Môn (Brāhmaṇa) họ là Kiều Trần Như (Kauṇḍiya), tên là Pháp Sư Thọ ký (Ācārya-vyākaraṇa-prāpta) cùng với vô lượng trăm ngàn chúng Bà La Môn cúng dường Đức Phật xong, nghe Đức Thế Tôn nói vào Bát Niết Bàn thì nước mắt nước mũi giao nhau tuôn chảy, tiến lên phía trước lễ bàn chân của Đức Phật rồi bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu thật Đức Như Lai đối với chúng sinh có Đại Từ Bi, thương xót lợi ích khiến được an vui giống như cha mẹ, ngoài ra không có ai bằng, Hay làm chỗ quy y cho Thế Gian như mặt trăng tròn đầy thanh tịnh, dùng Đại Trí Tuệ hay làm chiếu sáng như mặt trời mới mọc. Quán khắp chúng sinh, yêu thương không có thiên lệch như La Hỗ La (Rāhula). Nguyện xin Đức Thế Tôn ban cho con một Nguyện”   
Bấy giờ, Đức Thế Tôn yên lặng mà dừng. Do uy lực của Đức Phật cho nên ở trong Chúng này có vị Lê Xa Tỳ Đồng Tử (Litsavi-kumāra) tên là Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến (Sarva-satva-priya-darśana) bảo Bà La Môn Kiều Trần Như rằng: “Đại Bà La Môn! Nay ông theo Đức Phật, muốn xin nguyện gì? Tôi có thể cho ông”
Bà La Môn nói: “Này Đồng Tử! Tôi muốn cúng dường Đức Thế Tôn vô thượng. Nay theo Đức Như Lai cầu thỉnh Xá Lợi (Śarīra) khoảng như hạt cải. Tại sao thế? Tôi từng nghe nói nếu kẻ trai lành, người nữ thiện được Xá Lợi của Phật khoảng như hạt cải mà cung kính cúng dường thì người này sẽ sinh vào cõi Tam Thập Tam Thiên (Trāyastriṃśat-deva) mà làm Đế Thích (Indra)”.
Lúc đó, Đồng Tử bảo Bà La Môn rằng: “Nếu người muốn nguyện sinh vẻo cõi Tam Thập Tam Thiên thọ nhận quả báo thù thắng thì cần phải chí Tâm lắng nghe Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh này, ở trong các Kinh rất ư thù thắng, khó hiểu khó vào, là nơi mà Thanh Văn Độc Giác chẳng thể biết, Kinh này hay sinh vô biên Phước Đức Quả Báo, cho đến thành biện Vô Thượng Bồ Đề, Nay tôi vì ông lược nói việc ấy”.
Bà La Môn nói: “Lành thay Đồng Tử! Kim Quang Minh này thâm sâu tối thượng, khó hiểu khó vào, Thanh Văn Độc Giác còn chẳng thể biết, huống chi là chúng tôi, người ở biên thùy, Trí Tuệ nhỏ hẹp mà có thể hiểu rõ. Thế nên, nay tôi cầu Xá Lợi của Phật khoảng như hạt cải, cầm về bản xứ, để trong hộp báu, cung kính cúng dường, sau khi mệnh chung được làm Đế Thích, thường thọ nhận an vui. Tại sao ông chẳng thể vì tôi, theo Đức Minh Hạnh Túc (Vidyā-caraṇa-saṃpanna) cầu một Nguyện này?”

Nói lời đấy xong. Bấy giờ, Đồng Tử liền vì Bà La Môn mà nói Tụng là:
“Sông Hằng, nước chảy mau
Có thể sinh sen trắng
Chim vàng (hoàng điểu) làm hình trắng 
Chim đen (hắc điểu) biến làm đỏ
Giả sử cây Thiệm Bộ (Jambū)
Lại sinh quả Đa La (Tāla-phala)
Trong cành Khiết Thụ La (Kharjūra)
Hay sinh lá Am La (Amra)
Nhóm này, vật hiếm có
Hoặc có thể chuyển biến
Xá Lợi của Thế Tôn
Rốt ráo chẳng thể được
_Giả sử dùng lông rùa
Dệt thành áo thượng diệu
Khi lạnh có thể mặc
Mới cầu Xá Lợi Phật
_Giả sử chân ve, muỗi
Hay khiến thành lầu quán
Bền chắc chẳng lay động
Mới cầu Xá Lợi Phật
_Giả sử Thủy Điệt Trùng (con đỉa)
Trong miệng sinh răng trắng
Dài, lớn, bén như Phong (mũi nhọn)
Mới cầu Xá Lợi Phật
_Giả sử cầm sừng thỏ
Dùng thành các bậc thanh
Có thể lên cung Trời  
Mới cầu Xá Lợi Phật
_Chuột duyên trên thang này
Trử khử A Tô La
Hay che trăng trong không
Mới cầu Xá Lợi Phật
_Nếu ruồi uống rượu say
Đi vòng trong thành ấp
Rộng tạo làm nhà cửa
Mới cầu Xá Lợi Phật
_Nếu khiến màu môi lừa (con lừa)
Đỏ như quả Tần Bà (Bimbara, hay Bimba)
Khéo làm nơi ca múa
Mới cầu Xá Lợi Phật
_Quạ với chim cú vọ
Cùng nhau dạo một chỗ
Đó đây cùng thuận tùng
Mới cầu Xá Lợi Phật
_Giả sứ lá Ba La
Có thể thành dù lọng
Hay ngăn che mưa lớn
Mới cầu Xá Lợi Phật
_Mượn khiến tàu thuyền lớn
Chứa đầy các tài bảo
Khiến đi trên lục địa
Mới cầu Xá Lợi Phật
_Giả sử chim Tiêu Liêu (chim Hồng Tước)
Dùng mỏ ngậm Hương Sơn (Gandha-mādana: tục gọi là núi Côn Lôn)
Tùy theo xứ, du hành
Mới cầu Xá Lợi Phật”
 
Lúc đó, Bà La Môn Pháp Sư Thọ Ký nghe Tụng này xong, cũng dùng Già Tha (Kệ Tụng) đáp Đồng Tử Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến rằng:
“_Lành thay! Đại Đồng Tử
Cát Tường trong Chúng này
Tâm phương tiện khéo léo
Được Phật Vô Thượng Ký
Như Lai: uy đức lớn
Hay cứu giúp Thế Gian
Nhân Giả chí Tâm nghe
Nay tôi thứ tự nói
_Cảnh chư Phật khó nghĩ
Thế Gian không gì bằng
Pháp Thân, Tính thường trụ
Tu hành không không sai biệt
_Thể chư Phật đều đồng
Pháp đã nói cũng thế
Chư Phật, không người làm
Cũng lại vốn không sinh
_Thế Tôn, Thể Kim Cương
Quyền hiện ở Hóa Thân (Nirmāṇa-kāya)
Thế nên Xá Lợi Phật
Không như một hạt cải
_Phật chẳng phải là thân máu thịt
Làm sao có Xá Lợi
Phương tiện lưu xương cốt
Vì lợi các chúng sinh
_Pháp Thân là Chính Giác
Pháp Giới tức Như Lai
Là Chân Thân của Phật
Cũng nói Pháp như vậy”

Bấy giờ, trong Hội:  ba vạn hai ngàn vị Thiên Tử nghe nói Thọ Mệnh lâu dài của Đức Như Lai, đều phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác) vui mừng hớn hở được điều chưa từng có, khác miệng đồng âm mà nói Tụng rằng:
“Phật chẳng Bát Niết Bàn (vào Niết Bàn)
Chính Pháp cũng chẳng diệt
Vì lợi chúng sinh nên 
Hiện bày có diệt tật
Thế Tôn chẳng nghĩ bàn
Diệu Thể không tướng khác
Vì lợi chúng sinh nên
Hiện mọi loại trang nghiêm”
 
Khi ấy, Diệu Tràng Bồ Tát ở gần trước mặt Đức Phật với bốn Đức Như Lai kèm hai vị Đại Sĩ, chỗ của các Thiên Tử… nghe nói việc Thọ Lượng của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai xong, lại từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu thật như vậy thì chư Phật Như Lai chẳng Bát Niết Bàn, không có Xá Lợi. Thế tại sao trong Kinh nói có Niết Bàn với Xá Lợi của Phật, khiến cho các Người Trời cung kính cúng dường. Chư Phật quá khứ hiện có xương cốt của thân lưu bày ở đời, Người Trời cúng dường được Phước vô biên, nay lại nói không có!...nên sinh nghi ngờ. Nguyện xin Đức Thế Tôn thương xót chúng con, rộng vì phân biệt”
Bấy giờ, Đức Phật bảo Diệu Tràng Bồ Tát với các Đại Chúng: “Các ngươi nên biết, nói Bát Niết Bàn, có Xá Lợi là Mật Ý nói, Nghĩa như vậy, nên một lòng lắng nghe!.
_Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát nên biết như vầy: có mười Pháp hay giải thích được  Lý Thú chân thật của Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác, nói có Đại Niết Bàn cứu cánh. Thế nào là mười?
1_Chư Phật Như Lai rốt ráo chặt đứt hết các Phiền Não Chướng (Kleśāvaraṇa), Sở Tri Chướng (Jñeyāvaraṇa) cho nên gọi là Niết Bàn (Nirvāṇa)
2_Chư Phật Như Lai khéo hay hiểu thấu Hữu Tình Vô Tính với Pháp Vô Tính, cho nên gọi là Niết Bàn
3_Hay chuyển Thân Y với Pháp Y cho nên gọi là Niết Bàn
4_Đối với các hữu tình mặc tình (nhậm vận) ngưng nghỉ nhân duyên cảm hóa, cho nên gọi là Niết Bàn.
5_Chứng được tướng không có sai biệt của sự chân thật, Pháp Thân bình đẳng cho nên gọi là Niết Bàn
6_Hiểu thấu sinh tử với Niết Bàn không có hai Tính cho nên gọi là Niết Bàn
7_Đối với tất cả Pháp, hiểu thấu căn bản ấy, chứng thanh tịnh cho nên gọi là Niết Bàn
8_Đối với tất cả Pháp không có sinh, không có diệt, khéo tu hành cho nên gọi là Niết Bàn 
9_Chân Như Pháp Giới Thật Tế bình đẳng, được Chính Trí cho nên gọi là Niết Bàn
10_Đối với Tính của các Pháp với Tính của Niết Bàn, được không có sai biệt cho nên gọi là Niết Bàn
Đây là mười Pháp nói có Niết Bàn.
 
_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát nên biết như vầy: lại có mười Pháp hay giải thích được Lý Thú chân thật của Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác, nói có Đại Niết Bàn cứu cánh. Thế nào là mười?
1_Tất cả phiền não dùng nguyện cầu ước muốn (lạc dục) làm gốc, từ nguyện cầu ước muốn (lạc dục) mà sinh. Chư Phật Thế Tôn chặt đứt nguyện cầu ước muốn (lạc dục) cho nên gọi là Niết Bàn.
2_Do các Như Lai chặt đứt các nguyện cầu ước muốn (lạc dục), chẳng nhận lấy một Pháp. Do chẳng nhận lấy cho nên không có đi không có đến, không có chỗ chọn lấy cho nên gọi là Niết Bàn.
3_Do không có đi đến với không có chỗ chọn lấy, Đấy tức là Pháp Thân chẳng sinh chẳng diệt. Do không có sinh diệt cho nên gọi là Niết Bàn.
4_Không có sinh diệt này chẳng phải là nơi mà lời nói thông suốt được. Vì ngôn ngữ bị chặt đứt cho nên gọi là Niết Bàn.
5_Không có ta người, chỉ có Pháp sinh diệt được Chuyển Y (āśraya-parivṛtti, hoặc āśraya-parāvṛtti) cho nên gọi là Niết Bàn.
6_Phiền não (Kleśa) tùy theo Hoặc (trạng huống mê loạn của nội tâm) đều là Khách Trần. Pháp Tính (Dharmatā) là chủ không có đến không có đi. Do Đức Phật biết rõ cho nên gọi là Niết Bàn. 
7_Chân Như (Bhūta-tathatā, hay Tathatā) là thật, ngoài ra đều hư vọng. Thể của Thật Tính tức là Chân Như, Tính của Chân Như tức là Như Lai, nên gọi là Niết Bàn.
8_Tính của Thật Tế (Bhūta-koṭi) không có hý luận. Chỉ có một mình Đức Như Lai chứng Pháp Thật Tế, chặt đứt hẳn hý luận, cho nên gọi là Niết Bàn.
9_Không có sinh (vô sinh) là thật, sinh là hư vọng. Người ngu si chìm đắm sinh tử. Thể của Như Lai thật không có hư vọng, cho nên gọi là Niết Bàn.
10_Pháp chẳng thật là từ Duyên sinh, Pháp chân thật chẳng từ Duyên dấy lên. Thể Pháp Thân của Như Lai là chân thật, cho nên gọi là Niết Bàn.
Thiện Nam Tử! Đây là mười Pháp nói có Niết Bàn.
 
_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát nên biết như vầy: lại có mười Pháp hay giải thích được Lý Thú chân thật của Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác, nói có Đại Niết Bàn cứu cánh. Thế nào là mười?
1_Như Lai khéo biết Thí (Dāna: bố thí) với quả của Thí (Dāna-phala), không có cái ta (Ātman: ngã) cái của ta (Mama-kāra: ngã sở). Thí với Quả này, chẳng phân biệt chính đúng được trừ diệt vĩnh viễn, cho nên gọi là Niết Bàn.
2_Như Lai khéo biết Giới (Śīla: trì Giới) với quả của Giới (Śīla-phala), không có cái ta (Ātman: ngã) cái của ta (Mama-kāra: ngã sở). Giới với Quả này, chẳng phân biệt chính đúng được trừ diệt vĩnh viễn, cho nên gọi là Niết Bàn.
3_Như Lai khéo biết Nhẫn (Kṣānti: nhẫn nhục) với quả của Nhẫn (Kṣānti-phala), không có cái ta (Ātman: ngã) cái của ta (Mama-kāra: ngã sở). Nhẫn với Quả này, chẳng phân biệt chính đúng được trừ diệt vĩnh viễn, cho nên gọi là Niết Bàn.
4_Như Lai khéo biết Cần (Vīrya: tinh tiến) với quả của Cần (Vīrya-phala), không có cái ta (Ātman: ngã) cái của ta (Mama-kāra: ngã sở). Cần với Quả này, chẳng phân biệt chính đúng được trừ diệt vĩnh viễn, cho nên gọi là Niết Bàn.
5_Như Lai khéo biết Định (Dhyāna: thiền định) với quả của Định (Dhyāna-phala), không có cái ta (Ātman: ngã) cái của ta (Mama-kāra: ngã sở). Định với Quả này, chẳng phân biệt chính đúng được trừ diệt vĩnh viễn, cho nên gọi là Niết Bàn.
6_Như Lai khéo biết Tuệ (Prajñā: Trí Tuệ) với quả của Tuệ (Prajñā-phala), không có cái ta (Ātman: ngã) cái của ta (Mama-kāra: ngã sở). Tuệ với Quả này, chẳng phân biệt chính đúng được trừ diệt vĩnh viễn, cho nên gọi là Niết Bàn.
7_Chư Phật Như Lai khéo hay biết rõ tất cả Hữu Tình, Phi Hữu Tình, tất cả các Pháp đều không có Tính, chẳng phân biệt chính đúng được trừ diệt vĩnh viễn, cho nên gọi là Niết Bàn.
8_Nếu người tự yêu thương mình, liền dấy lên sự theo đuổi tìm kiếm (truy cầu). Do theo đuổi tìm kiếm cho nên nhận chịu mọi khổ não. Vì chư Phật Như Lai trừ bỏ sự tự yêu thương mình cho nên dứt hẳn sự theo đuổi tìm kiếm. Do không có theo đuổi tìm kiếm cho nên gọi là Niết Bàn.
9_Pháp của Hữu Vi (Saṃskṛta) đều có số lượng, Pháp của Vô Vi (Asaṃskṛta) đều trừ bỏ số lượng. Đức Phật lìa Hữu Vi, chứng Pháp Vô Vi. Do không có số lượng cho nên gọi là Niết Bàn.
10_Như Lai hiểu rỏ Thể Tính của hữu tình với Pháp đều trống rỗng (Śūnya:không), lìa trống rỗng chẳng phải là có. Tính trống rỗng (Śūnyatā: Không Tính) tức là Pháp Thân chân thật, cho nên gọi là Niết Bàn.
Thiện Nam Tử! Đây là mười Pháp nói có Niết Bàn.
 
_Lại nữa Thiện Nam Tử! Há chỉ có Như Lai chẳng Bát Niết Bàn là điều hiếm có. Lại có mười loại Pháp hiếm có là Hạnh của Như Lai (Tathāgata-caryā: Như Lai Hạnh). Thế nào là mười?
1_Sinh tử lỗi lầm, Niết Bàn vắng lặng. Do ở Sinh Tử cùng với Niết Bàn, chứng bình đẳng cho nên chẳng ở lưu chuyển, chẳng trụ Niết Bàn, đối với các chúng sinh chẳng sinh chán bỏ. Là Hạnh của Như Lai.
2_ Đức Phật đối với chúng sinh chẳng tác niệm này: Các Ngu Phu này thực hành cái thấy điên đảo (điên đảo kiến) bị các phiền não ràng buộc ép bức, nay Ta khai ngộ khiến cho họ giải thoát. Nhưng do sức căn lành của lòng Từ (Từ thiện căn lực) xưa kia, đối với hữu tình ấy, tùy theo căn tính của họ, ý ưa thích Thắng Giải (Adhimokṣa: hiểu thấu sự thù thắng), chẳng khởi phân biệt, mặc tình tế độ, chỉ bày dạy bảo lợi vui, tận bờ mé vị lai không có cùng tận. Là Hạnh của Như Lai.
3_Đức Phật không có niệm này: Nay Ta diễn nói mười hai phần Giáo lợi ích hữu tình. Nhưng do sức căn lành của lòng Từ (Từ thiện căn lực) xưa kia, vì hữu tình ấy rộng nói, cho đến tận bờ mé vị lai, không có cùng tận. Là Hạnh của Như Lai.
4_Đức Phật không có niệm này: Nay Ta đến thành ấp, thôn xóm kia, nhà của nhóm vua chúa với Đại Thần, Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Bệ Xá, Thú Đà La… theo nơi ấy xin thức ăn. Nhưng do sức quán tập của Hạnh thân miệng ý xưa kia cho nên mặc tình đến chốn ấy, vì việc lợi ích mà đi khất thực (xin thức ăn). Là Hạnh của Như Lai.
5_Thân của Như Lai không có đói khát, cũng không có tướng đại tiểu tiện, mệt nhọc quẫn bách, tuy đi xin lấy thức ăn mà không có chỗ ăn (vô sở thực), cũng không có phân biệt. Nhưng vì nhậm vận lợi ích hữu tình, bày có tướng ăn. Là Hạnh của Như Lai.
6_Đức Phật không có niệm này: Các chúng sinh này có thượng trung hạ, tùy theo tính chất căn cơ (cơ tính) của họ mà nói Pháp. Nhưng Đức Phật Thế Tôn không có phân biệt, tùy theo khí lượng ấy, khéo ứng với cơ duyên vì kẻ ấy nói Pháp. Là Hạnh của Như Lai.
7_Đức Phật không có niệm này: Loại hữu tình này chẳng cung kính Ta, thường ở chỗ của Ta phát ra lời mắng chửi, chẳng thể cùng với kẻ ấy nói năng luận bàn được. Loại hữu tình kia cung kính Ta, thường ở chỗ của Ta cùng nhau khen ngợi, Ta nên cùng với kẻ ấy nói chuyện. Thế nhưng Đức Như Lai khởi Tâm Từ Bi, bình đẳng không có hai. Là Hạnh của Như Lai.
8_Chư Phật Như Lai không có yêu ghét, kiêu mạn, tham tiếc với các phiền não. Thế nhưng Đức Như Lai thường ưa thích vắng lặng, khen ngợi ít ham muốn (dục), lìa các chỗ ồn áo náo nhiệt (huyên náo). Là Hạnh của Như Lai.
9_Như Lai không có một Pháp nào chẳng biết, chẳng khéo thông đạt, ở tất cả nơi chốn, Kính Trí (Trí như cái gương sáng) hiện trước mặt không có phân biệt. Thế nhưng Đức Như Lai thấy sự nghiệp mà hữu tình kia đã làm, tùy theo ý của kẻ ấy chuyển phương tiện ví dụ dẫn dắt khiến được xuất ly (Naiṣkramya: vượt thoát nỗi khổ sinh tử luân hồi mà thành biện Phật Đạo). Là Hạnh của Như Lai.
10_ Như Lai nếu thấy một phần hữu tình được giàu có thịnh vương (phú thịnh) thời chẳng sinh vui vẻ, thấy họ bị suy sụp hao tổn cũng chẳng khởi lo lắng. Thế nhưng Đức Như Lai thấy hữu tình ấy tu tập Chính Hạnh thì Vô Ngại Đại Từ tự nhiên cứu nhiếp. Nếu thấy hữu tình tu tập Tà Hạnh thì Vô Ngại Đại Bi tự nhiên cứu nhiếp. Là Hạnh của Như Lai.
Thiện Nam Tử! Như vậy nên biết Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác nói có vô biên Chính Hạnh như vậy. Các ông nên biết đấy là tướng chân thật của Niết Bàn, hoặc khi thấy có vị Bát Niết Bàn thì đấy là Quyền phương tiện với lưu Xá Lợi khiến cho hữu tình cung kính cúng dường, đều là sức căn lành của lòng Từ (Từ thiện căn lực) của Như Lai. Nếu người cúng dượng thì ở đời vị lai, xa lìa tám nạn gặp được chư Phật, gặp Thiện Tri Thức, chẳng mất Tâm thiện, Phước Báo vô biên, mau sẽ xuất ly, chẳng bị sinh tử ràng buộc. Diệu Hạnh như vậy, các ông siêng tăng tu, đừng có phóng dật”.
   
Bấy giờ, Diệu Tràng Bồ Tát nghe Đức Phật tự nói  chẳng Bát Niết Bàn với Hạnh thâm sâu thời chắp tay cung kính, bạch rằng: “Nay con mới biết Như Lai Đại Sư chẳng Bát Niết Bàn với lưu Xá Lợi lợi ích cho khắp cả chúng sinh, nên thân tâm hớn hở vui thích, khen chưa từng có”
Khi nói Phẩm Thọ Lượng của Như Lai đó thời vô lượng vô số vô biên chúng sinh đều phát Tâm Vô Đẳng Đẳng A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề. Thời bốn Đức Như Lai đột nhiên chẳng hiện. Diệu Tràng Bồ Tát lễ bàn chân của Đức Phật xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, quay trở về chỗ cũ (bản xứ)
 
KIM QUANG MINH TỐI THẮNG VƯƠNG KINH
_QUYỂN THỨ NHẤT (Hết)_